Các loại cụm từ trong tiếng Việt là gì? Chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân được quy định như thế nào?
Các loại cụm từ trong tiếng Việt là gì? Có mấy loại cụm từ trong tiếng Việt?
Trong tiếng Việt, cụm từ là một tổ hợp các từ kết hợp với nhau để tạo thành một đơn vị có nghĩa. Cụm từ trong tiếng Việt có thể là một phần trong câu, giúp bổ sung, làm rõ nghĩa cho các thành phần khác. Có thể chia cụm từ thành các loại cơ bản như sau:
- Cụm danh từ (Cụm danh từ): Là cụm từ do một danh từ chính kết hợp với các từ bổ nghĩa (tính từ, số từ, từ chỉ định,...) để tạo thành một cụm từ chỉ sự vật, hiện tượng.
Ví dụ:
"Một con chó con"
"Chiếc áo mới"
"Ngôi nhà cổ kính"
- Cụm động từ (Cụm động từ): Là cụm từ bao gồm động từ chính kết hợp với một hoặc nhiều từ phụ (trợ động từ, trạng từ,...) để diễn tả hành động, trạng thái.
Ví dụ:
"Đi học"
"Đang đọc sách"
"Bắt đầu làm việc"
- Cụm tính từ (Cụm tính từ): Là cụm từ bao gồm một tính từ chính kết hợp với các từ bổ nghĩa (trạng từ hoặc các từ khác) để mô tả đặc điểm, tính chất của sự vật.
Ví dụ:
"Rất đẹp"
"Cực kỳ thông minh"
"Quá mệt mỏi"
- Cụm số từ (Cụm số từ): Là cụm từ do một số từ kết hợp với danh từ để chỉ số lượng, mức độ.
Ví dụ:
"Hai con mèo"
"Mười bông hoa"
"Ba chiếc ô tô"
- Cụm trạng từ (Cụm trạng từ): Là cụm từ do một trạng từ chính kết hợp với các từ phụ (thường là các từ chỉ thời gian, nơi chốn, mức độ) để bổ nghĩa cho động từ, tính từ, hoặc cả câu.
Ví dụ:
"Rất nhanh"
"Đi rất xa"
"Học thật chăm chỉ"
Như vậy, có 5 loại cụm từ cơ bản trong tiếng Việt: cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ, cụm số từ, và cụm trạng từ. Các cụm từ này giúp tạo nên câu văn có nghĩa rõ ràng, dễ hiểu và sinh động hơn.
Thông tin mang tính tham khảo!
Các loại cụm từ trong tiếng Việt là gì? Chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân được quy định như thế nào? (Hình từ Internet)
Chương trình giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được quy định như thế nào?
Căn cứ Điều 8 Luật Giáo dục 2019 quy định như sau:
- Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học; phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục; cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp học, mỗi cấp học hoặc các môn học, mô-đun, ngành học đối với từng trình độ đào tạo.
- Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa, liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo; tạo điều kiện cho phân luồng, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân để địa phương và cơ sở giáo dục chủ động triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp; đáp ứng mục tiêu bình đẳng giới, yêu cầu hội nhập quốc tế. Chương trình giáo dục là cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện.
- Chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực người học quy định trong chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa đối với giáo dục phổ thông; giáo trình và tài liệu giảng dạy đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học. Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục.
- Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; theo niên chế hoặc theo phương thức tích lũy mô-đun hoặc tín chỉ hoặc kết hợp giữa tín chỉ và niên chế đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.
Kết quả học tập môn học hoặc tín chỉ, mô-đun mà người học tích lũy được khi theo học một chương trình giáo dục được công nhận để xem xét về giá trị chuyển đổi cho môn học hoặc tín chỉ, mô-đun tương ứng trong chương trình giáo dục khác khi người học chuyên ngành, nghề đào tạo, chuyển hình thức học tập hoặc học lên cấp học, trình độ đào tạo cao hơn.
- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định việc thực hiện chương trình giáo dục và việc công nhận về giá trị chuyển đổi kết quả học tập trong đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp quy định tại Điều này.
Chương trình giáo dục phổ thông có bắt buộc phải lấy ý kiến trước khi ban hành không?
Căn cứ Điều 31 Luật Giáo dục 2019 quy định như sau:
Chương trình giáo dục phổ thông
1. Chương trình giáo dục phổ thông phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông;
b) Quy định yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh cần đạt được sau mỗi cấp học, nội dung giáo dục bắt buộc đối với tất cả học sinh trong cả nước;
c) Quy định phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phổ thông;
d) Thống nhất trong cả nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục phổ thông;
đ) Được lấy ý kiến rộng rãi các tổ chức, cá nhân và thực nghiệm trước khi ban hành; được công bố công khai sau khi ban hành.
...
Như vậy, chương trình giáo dục phổ thông cần phải bảo đảm được lấy ý kiến rộng rãi các tổ chức, cá nhân và thực nghiệm trước khi ban hành.
Chương trình giáo dục phổ thông được công bố công khai sau khi ban hành.










Quý khách cần hỏi thêm thông tin về có thể đặt câu hỏi tại đây.
- Quy trình sát hạch lý thuyết lái xe hạng A1 thế nào? Thời hạn của giấy phép lái xe hạng A1 là bao lâu?
- Thời điểm xét thăng quân hàm cấp tướng vượt bậc? Nguyên tắc xét thăng quân hàm cấp tướng vượt bậc?
- Liên hệ bản thân về công tác cán bộ? Liên hệ thực tiễn về quản lý cán bộ công chức ở cơ sở? Liên hệ thực tế về công tác cán bộ?
- Kết quả lấy ý kiến Nhân dân về sáp nhập tỉnh, xã, đổi tên đơn vị hành chính được lấy để hoàn thiện đề án sáp nhập đúng không?
- Cơ quan nào được sử dụng tiền thu từ việc xử phạt vi phạm về an toàn giao thông sau khi nộp vào ngân sách nhà nước?