Phân tích bức tranh Thanh minh trong tiết tháng ba - Truyện Kiều Nguyễn Du? Truyện Kiều Nguyễn Du có phải tác phẩm bắt buộc?
Phân tích bức tranh Thanh minh trong tiết tháng ba - Truyện Kiều Nguyễn Du?
Truyện Kiều của Nguyễn Du (Đoạn trường tân thanh) được sáng tác vào đầu thế kỉ 19 (khoảng 1805 - 1809). Truyện Kiều của Nguyễn Du được sáng tác dựa trên cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc. Tuy nhiên, phần sáng tạo của Nguyễn Du là vô cùng lớn, mang đến sự thành công và sức hấp dẫn cho tác phẩm.
Tác phẩm được viết theo thể loại truyện thơ Nôm với 3254 câu thơ lục bát, được bố cục gồm 3 phần:
- Phần thứ nhất: Gặp gỡ và đính ước
- Phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc
- Phần thứ ba: Đoàn tụ
Tham khảo Phân tích bức tranh Thanh minh trong tiết tháng ba - Truyện Kiều của Nguyễn Du dưới đây:
Bức tranh Thanh minh trong tiết tháng ba - Truyện Kiều Nguyễn Du Trong dòng chảy của lịch sử văn học dân tộc, Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du nổi lên là một kiệt tác “tòng lai chưa từng thấy”. Mượn cốt truyện tài tử giai nhân “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân nhưng những sáng tạo to lớn của Nguyễn Du đã nâng tầm Truyện Kiều trở thành tác phẩm lớn của văn học thế giới. “Truyện Kiều” vượt ra khỏi giới hạn của không gian, thời gian để đến với nhân loại, đặt ra những vấn đề lớn như khát vọng hoà bình, tinh thần nhân văn cao cả, đề cao quyền sống, đề cao giá trị con người, các vấn đề về giá trị gia đình, văn hoá dân tộc, về bình đẳng giới… Với Truyện Kiều thể thơ lục bát thuần tuý của dân tộc đã đạt đến đỉnh cao. Cảnh ngày xuân là một đoạn trích thuộc phần đầu của Truyện Kiều. Đoạn trích đã thể hiện được tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên, khung cảnh lễ hội ngày xuân và bắt đầu sử dụng bút pháp kinh điển của thơ ca trung đại: bút pháp tả cảnh ngụ tình. Sau bức chân dung hai giai nhân tuyệt sắc là bức họa về cảnh sắc mùa xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của trai tài gái sắc, của chị em Thúy Kiều. Đoạn trích Cảnh ngày xuân gồm có 18 câu, từ câu số 39 đến câu số 56 của Truyện Kiều chứng tỏ sự kết hợp nhuần nhị, kì diệu giữa ngôn ngữ thuần Việt trong sáng, giản dị và ngôn ngữ bác học cách điệu, uyên bác của đại thi hào Nguyễn Du. Một vẻ đẹp thanh xuân, một niềm vui xôn xao, náo nức cứ dâng lên, cứ lan tỏa, rồi lắng dịu mãi trong lòng ta khi đọc đoạn thơ này. Mở đầu đoạn trích, nhà thơ đã đem đến cho chúng ta một bức tranh thiên nhiên thật sống động, tươi đẹp mà đầy sức xuân. “Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Bốn câu thơ đầu mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hương, hữu tình, nên thơ. Giữa bầu trời cao bao la mênh mông là những cánh én bay qua bay lại như "đưa thoi". Cánh én mùa xuân thật thân mật biết bao, vừa là hình ảnh ước lệ mà cũng vô cùng chân thực, sống động bởi cánh én chính là báo hiệu cho mùa xuân về, một mùa gợi lên sự ấm áp, sự sống căng đầy và niềm vui trọn vẹn. Với từ ngữ “đưa thoi” vừa gợi lên khung cảnh bầu trời tràn ngập cánh én, vừa diễn tả sự trôi đi quá nhanh của thời gian. Sau cánh én "đưa thoi" là ánh xuân, là "thiều quang" của mùa xuân khi "chín chục đã ngoài sáu mươi". Cách tính thời gian và miêu tả vẻ đẹp của mùa xuân của các thi sĩ xưa nay thật ý vị làm sao. Nào là "xuân hướng lão" (Ức trai), nào là cảnh mưa bụi, tiếng chim kêu trong Đường thi, nào là cánh bướm rối rít bay trong thơ Trần Nhân Tông,… còn với Nguyễn Du mùa xuân đã bước sang tháng ba rồi. Thời gian ấy làm cho con người ta thấy vấn vương, tiếc nuối khi sắp kết thúc một mùa xuân. “Thiều quang” là chỉ ánh sáng của mùa xuân, nó không chói chang như mùa hạ hay yếu ớt của mùa đông mà nó là ánh sáng ấm áp, mang đến sức sống cho muôn loài. Có phải chăng ý niệm về thời gian của Nguyễn Du có phần giống với Xuân Diệu, thời gian trôi đi nhanh, mùa xuân và tuổi trẻ cũng trở nên chông chênh hơn. Đồng nghĩa với thời gian trôi đi, tuổi trẻ trôi đi thì đời người bỗng nhiên ngắn lại. Đó là một triết lý, một cảm thức về thời gian qua lăng kính tâm hồn nhân vật. Đó cũng là triết lý thấm đượm tinh thần nhân văn hiện đại và táo bạo bởi lẽ trong thời đại ấy người ta quan niệm thời gian tĩnh tại, tuần hoàn bất biến. Lo sợ, run rẩy trước bước đi của thời gian là vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm, thiết tha, yêu cuộc sống, yêu mùa xuân. Cũng để từ đó một bức tranh toàn bích, một thiên nhiên thứ hai trong Truyện Kiều tái sinh trong lòng người đọc tươi trẻ mãi: "Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Trong tiết trời tháng ba ấy, nổi bật lên là sắc "xanh" mơn mởn, ngọt ngào của cỏ non trải dài, trải rộng như một tấm thảm "tận chân trời"; hương cỏ lan trong gió. Mùa xuân mới mẻ, tinh khôi, căng tràn sức sống. Không gian mùa xuân miên viễn vô tận không có đường viền. Trên cái nền xanh bát ngát ấy điểm xuyết một vài sắc trắng tinh khôi, thanh khiết của hoa lê nở lác đác, chỉ mới hé lộ, khoe sắc, khoe hương "một vài bông hoa". Vần cổ thi Trung Hoa được Tố Như vận dụng một cách sáng tạo: "Phương thảo liên thiên bích – Lê chỉ sổ điểm hoa". Hai chữ "trắng điểm" là nhãn tự, cách chấm phá điểm xuyết của thi pháp cổ gợi lên vẻ đẹp thanh xuân tinh khôi của thiên nhiên cỏ hoa ấm áp, yên bình ở một chốn làng quê. Bút pháp nghệ thuật phối sắc tài tình: trên cái nền xanh của cỏ non là một vài bông lê "trắng điểm". Giữa diện và điểm, giữa nền xanh và sắc trắng của cảnh vật mùa xuân là những cánh én "đưa thoi", là màu hồng của ánh thiều quang, là "khát vọng mùa xuân" ngây ngất, say đắm lòng người. Một bức tranh hài hòa, tương giao tuyệt đối về màu sắc đã hiện ra: xanh của cỏ, xanh của trời, trắng của hoa lê, sống động có hồn, tĩnh mà không tĩnh. Cảnh mùa xuân là bức tranh mùa xuân hoa lệ, là vần thơ tuyệt bút của Nguyễn Du để lại cho đời, điểm tô cho cuộc sống mỗi chúng ta. Phải chăng, thi sĩ Chế Lan Viên đã học tập Tố Như để viết nên vần thơ xuân đẹp này: "Tháng giêng hai xanh mượt cỏ đồi Tháng giêng hai vút trời bay cánh én…" Trong khung cảnh ngày xuân tươi đẹp ấy, lễ và hội trong tiết thanh minh đã cùng lúc diễn ra: “Thanh minh trong tiết tháng ba Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh Gần xa nô nức yến anh Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như nước áo quần như nêm Ngổn ngang gò đống kéo lên Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”. Tám câu thơ đã tái hiện phong tục tảo mộ (viếng mộ, sửa sang phần mộ của người thân) và du xuân (hội đạp thanh) trong tiết Thanh minh. Nếu lễ tảo mộ hướng về quá khứ với tất cả lòng thành thì hội đạp thanh là nơi hội tụ và gặp gỡ của những tài tử, giai nhân, là hướng về tương lai. Không khí rộn ràng của lễ hội mùa xuân được gợi lên bởi hàng loạt các từ ghép tính từ, danh từ, động từ kép: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, sắm sửa, dập dìu, gần xa, nô nức. Chúng được đặt cạnh nhau dồn dập gợi nên không khí đông đúc, vui tươi sôi nổi. Đó không chỉ là không khí lễ hội mà còn mang đậm màu sắc tươi tắn, trẻ trung của tuổi trẻ. Trong đám tài tử giai nhân đi trẩy hội mùa xuân có chị em Thúy Kiều “sắm sửa bộ hành chơi xuân". Đằng sau sự thông báo câu thơ còn cho ta thấy được bao nỗi niềm chờ mong, trông đợi, khát khao của tuổi trẻ. Hệ thống từ Hán Việt kết hợp với từ Thuần Việt đã tạo ra một không khí ngày xuân vừa cổ kính, trang nghiêm, vừa rộn ràng, tấp nập, gần gũi. Vui với hội nhưng lòng người không quên lễ: "Ngổn ngang gò đống kéo lên Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”. Nguyễn Du đã rất tài tình khi sử dụng các động từ một cách chọn lọc, tinh tế, làm sống lại không khí lễ hội mùa xuân, một nét đẹp của nền văn hóa lâu đời của phương Đông, của Trung Hoa, của Việt Nam chúng ta và nếp sống "phong lưu" của chị em Kiều. Ở đây, không khí mộ địa khiến câu thơ chùng xuống và phảng phất buồn. Trong ánh chiều tà, bên những nấm mồ ngổn ngang gò đống, người ta rắc vàng vó, đốt tiền giấy, tro tàn bay lên mang theo tấm lòng thành và niềm tâm linh khó lý giải của người ở lại. Sáu câu thơ cuối đoạn ghi lại cảnh chị em Kiều đi tảo mộ đang dần bước trở về nhà. Mặt trời đã "tà tà" gác núi. Ngày hội, ngày vui đã trôi qua nhanh: "Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dang tay ra về. Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cánh có bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang" Đây là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đầu tiên trong Truyện Kiều. Qua ngòi bút của Đại thi hào Nguyễn Du, tâm thức của con người và ngoại giới bao giờ cũng tương thông: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" Cảnh xuất hiện luôn là phông nền, là phương tiện để thể hiện muôn nẻo cảm xúc của con người. Khung cảnh du xuân trở về đầy ánh chiều tà. Cảnh vẫn đẹp nhưng đượm buồn, nhạt nhòa. Không khí vui tươi, náo nhiệt không còn nữa mà nó đang mờ nhạt dần theo ánh nắng. Trời đã về chiều, mặt trời đã lặn sau chân núi, chỉ còn những ánh sáng yếu ớt của những tia nắng còn sót lại. Và nếu không gian của buổi sáng là một sự bừng nở, tràn đầy sức sống, sinh động thì giờ đây trong hoàng hôn bảng lảng, cảnh vật như thu mình lại. Từ ngọn tiểu khê cho đến dịp cầu nho nhỏ. Cảnh vật co mình lại, nhạt nhòa bởi lòng người không còn háo hức, mê say như buổi sáng thanh minh. Thành công của Nguyễn Du là bên cạnh bút pháp tả cảnh ngụ tình đoạn thơ còn sử dụng hàng loạt từ láy như thanh thanh, nao nao, tà tà, thơ thẩn. Hệ thống từ láy đó vừa gợi tả sắc thái của cảnh vật và cũng chính là tâm trạng của con người. Dường như cảnh vật cũng thấu hiểu lòng người, cũng khoác lên mình một màu u buồn. Con người như đang gói ghém tất cả cảm xúc để rồi tất cả sẽ trở thành kỷ niệm, thành kí ức ngọt ngào nhất trong đời. Đặc biệt từ láy nao nao vừa tả cảnh nhưng đó cũng là những cơn sóng lòng đầy dự cảm. Một tâm trạng bâng khuâng, thơ thẩn như đang suy nghĩ về một vấn đề nào đó và dự cảm có điều gì đó sẽ xảy ra trong tương lai sắp tới. Rồi đây Kiều sẽ gặp Kim Trọng – phong tư tài mạo tót vời và nấm mồ Đạm Tiên. Một con người, một hồn ma sẽ trở thành định mệnh trong cuộc đời Kiều từ phút giây gặp gỡ. Như vậy, chỉ bằng 18 câu thơ lục bát trong một đoạn trích, cảnh vật và thời gian mùa xuân đã hiện ra dưới bút pháp chấm phá, gợi tả, tả cảnh ngụ tình, đặc biệt là ngôn ngữ đặc sắc, giàu sức gợi… Quả thật Cảnh ngày xuân đã biểu hiện một cách tài tình tài năng của đại thi hào Nguyễn Du đồng thời thấm đượm giá trị nhân văn cao cả. Chắc chắn người đọc sẽ nhớ mãi những vần thơ đặc sắc như thế. |
Lưu ý: Phân tích Bức tranh Thanh minh trong tiết tháng ba trên chỉ mang tính chất tham khảo.
Phân tích bức tranh Thanh minh trong tiết tháng ba - Truyện Kiều Nguyễn Du? Yêu cầu về năng lực văn học của học sinh cấp THPT? (Hình từ Internet)
Truyện Kiều Nguyễn Du có phải tác phẩm bắt buộc?
Căn cứ theo quy định tại điểm b tiểu mục 1.3 khoản 1 Mục V Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT:
NỘI DUNG GIÁO DỤC
1. Nội dung khái quát
Nội dung dạy học được xác định dựa trên các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp, gồm: hoạt động đọc, viết, nói và nghe; kiến thức (tiếng Việt, văn học); ngữ liệu.
...
1.3. Ngữ liệu
...
b) Tác phẩm bắt buộc
- Nam quốc sơn hà (Thời Lý)
- Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn
- Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi
- Truyện Kiều của Nguyễn Du
- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
- Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh
...
Theo quy định trên, Truyện Kiều Nguyễn Du là tác phẩm bắt buộc học trong nội dung môn Ngữ Văn.
Yêu cầu về năng lực văn học của học sinh cấp THPT?
Căn cứ theo Mục IV quy định về Yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục môn Ngữ Văn được ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, yêu cầu cần đạt về năng lực văn học của học sinh cấp THPT được quy định như sau:
Phân tích và đánh giá văn bản văn học dựa trên những hiểu biết về phong cách nghệ thuật và lịch sử văn học. Nhận biết được đặc trưng của hình tượng văn học và một số điểm khác biệt giữa hình tượng văn học với các loại hình tượng nghệ thuật khác (hội hoạ, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc); phân tích và đánh giá được nội dung tư tưởng và cách thể hiện nội dung tư tưởng trong một văn bản văn học; nhận biết và phân tích được đặc điểm của ngôn ngữ văn học, câu chuyện, cốt truyện và cách kể chuyện; nhận biết và phân tích được một số đặc điểm phong cách nghệ thuật trong văn học dân gian, trung đại và hiện đại; phong cách nghệ thuật của một số tác giả, tác phẩm lớn. Nêu được những nét tổng quát về lịch sử văn học dân tộc (quá trình phát triển, các đề tài và chủ đề lớn, các tác giả, tác phẩm lớn; một số giá trị nội dung và hình thức của văn học dân tộc) và vận dụng vào việc đọc tác phẩm văn học. Tạo lập được một số kiểu văn bản văn học thể hiện khả năng biểu đạt cảm xúc và ý tưởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ. |










Quý khách cần hỏi thêm thông tin về có thể đặt câu hỏi tại đây.
- Quy trình đào tạo lái xe mô tô các hạng A1, A, B1 được quy định như thế nào? Giấy phép lái xe hạng A1, A, B1 dành cho các loại xe nào?
- Ngày Cá tháng Tư tiếng Anh là gì? Ngày Cá tháng Tư có nguồn gốc từ nước nào? Ngày Cá tháng 4 có được nghỉ làm?
- Dự đoán ngày 30 3 2025 tốt hay xấu? Giờ đẹp ngày 30 3 2025 tài lộc may mắn? Ngày 30 tháng 3 năm 2025 có tốt không?
- 5 mẫu viết bài văn giới thiệu một cuốn sách yêu thích ngữ văn lớp 8? Viết bài văn giới thiệu một cuốn sách yêu thích?
- Mẫu biên bản họp tạm ngừng kinh doanh công ty TNHH 2 thành viên? Hồ sơ đăng ký tạm ngừng kinh doanh công ty TNHH 2 thành viên?