Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương? Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 3? Mẫu bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 hay nhất?
Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương? Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 3? Mẫu bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 hay nhất?
Thông tin tham khảo bài văn Giỗ tổ Hùng Vương, bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 3, mẫu bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 hay nhất dưới đây:
MẪU 01 - Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 3
Là người Việt Nam, không ai là không biết đến câu ca: “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.” Lễ hội đền Hùng Giỗ Tổ Hùng Vương (được tổ chức ngày mồng mười tháng ba hàng năm) từ lâu đã trở thành một tục lệ trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, một điểm tựa của tinh thần văn hóa. Giỗ Tổ Hùng Vương từ rất lâu đã trở thành ngày lễ hội trọng đại của cả dân tộc. Dù ở phương trời nào, người Việt Nam đều nhớ ngày giỗ Tổ mà hướng về vùng đất Phú Thọ. Từ các triều đại phong kiến Việt Nam, Đinh Lý Trần Lê, Đền Hùng đã là nơi tưởng nhớ, tôn vinh công lao các Vua Hùng, là biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc ta. Ngày này hàng năm, lễ hội đền Hùng vẫn được tổ chức theo truyền thống văn hóa của dân tộc. Không chỉ để tưởng nhớ tổ tiên cội nguồn, lễ hội Đền Hùng còn nhằm giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", ghi nhớ mười tám vị Vua Hùng đã có công dựng nước và lớp lớp các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước. Lễ hội đền Hùng được diễn ra vào ngày mồng mười tháng ba: “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba” Từ thuở xưa lễ Hội đền Hùng đã có một đặc thù riêng là phần lễ nặng hơn phần hội. Người về dự hội là hướng về tổ tiên với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc (Uống nước nhớ nguồn). Phần hội chỉ là phần phụ để không khí thêm vui tươi, náo nhiệt trong ngày này. Phần lễ gồm tế lễ của triều đình sau đó là phần lễ của dân. 41 làng thuộc tỉnh Phú Thọ được rước kiệu từ đình làng mình đến Đền Hùng. Các kiểu đều được sơn son thếp vàng, chạm trổ đẹp mắt, được rước đi trong không khí vừa trang nghiêm vừa vui vẻ với tiếng chiêng, trống, nhạc bát âm rộn rã một vùng. Phần hội gồm các trò chơi dân gian như đánh vật, ném còn, cờ người, bắn cung nỏ… và đặc biệt nhất là các đêm hát xoan, hát ghẹo – hai làn điệu dân ca độc đáo riêng ở Châu Phong. Vào những năm chẵn (5 năm một lần), giỗ Tổ được tổ chức theo đúng nghi lễ quốc gia, năm lẻ do tỉnh Phú Thọ tổ chức. Dù năm chẵn hay lẻ lễ hội Giỗ Tổ vẫn rất chặt chẽ, bao gồm hai phần lễ và hội. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được khai sinh đánh dấu bước ngoặt lịch sử mới của dân tộc ta. Giỗ Tổ Hùng Vương năm 1946 là một sự kiện hết sức đặc biệt, đáng ghi nhớ. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phó Chủ tịch nước bấy giờ, đã thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa lên làm lễ dâng hương tại Đền Hùng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Lời căn dặn như lời hứa quyết tâm của vị lãnh tụ đứng đầu đất nước. Có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có chung một ngày giỗ Tổ như dân tộc ta. Từ huyền thoại Âu Cơ và Lạc Long Quân đẻ ra trăm trứng, nửa theo Cha xuống biển, nửa theo mẹ lên rừng đã khơi dậy ý thức về dân tộc và gắn kết chúng ta thành một khối đại đoàn kết. Vì thế mà hai chữ đồng bào là khởi nguồn của yêu thương, đùm bọc, của sức mạnh Việt Nam. Phần lễ được tổ chức trang nghiêm trong các đền, chùa trên núi Hùng. Nghi thức dâng hương, dâng hoa của các đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ, các địa phương trong toàn quốc,… được tổ chức trang nghiêm và long trọng tại đền Thượng. Từ chiều ngày mùng 9, làng được Ban tổ chức lễ hội cho phép rước kiệu dâng lễ đã tập trung đông đủ tại nhà bảo tàng dưới chân núi, trên kiệu đặt lễ vật. Sáng mồng 10, các đoàn đại biểu tập trung ở thành phố Việt Trì, xe tiêu binh rước vòng hoa dẫn đầu, diễu hành đến chân núi Hùng. Tới trước thềm của "Điện Kính Thiên”, đoàn đại biểu kính cẩn dâng lễ vào thượng cung đền Thượng. Nguyên thủ quốc gia hoặc đại biểu đại diện Bộ Văn hóa, thay mặt cho tỉnh và nhân dân cả nước đọc chúc văn lễ Tổ. Toàn bộ nghi thức hành lễ được báo chí, truyền hình đưa tin hoặc tường thuật trực tiếp để đồng bào cả nước theo dõi lễ hội. Người đi lễ dâng lễ trong các đền, chùa trên núi, ai cũng có tâm nguyện cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu. Lễ hội ngày nay có nhiều hình thức diễn ra văn hóa hóa xưa. Các hình thức văn hóa được đan xen giữa truyền thống và hiện đại. Trong khu vực diễn ra hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hóa phẩm, các cửa hàng dịch vụ ăn uống, các khu văn hóa, thể thao,… được duy trì trong nhiều năm nay. Các trò chơi văn hóa dân gian được duy trì đến ngày nay như: đu quay, đấu vật, chọi gà, kéo lửa, nấu cơm thi, đánh cờ tướng (cờ người)… Bên cạnh đó là sân khấu của các đoàn nghệ dân chuyên nghiệp: chèo, hát quan họ, kịch nói,… Đây chính là nơi để thi tuyển và giao lưu văn hóa giữa các vùng. Những làn điệu hát Xoan – Ghẹo với lời ca tinh tế mượt mà đã đem tới cho lễ hội một nét đặc trưng, thấm đượm văn hóa vùng đất Phú Thọ. Tổ tiên người Việt Nam luôn muốn nhắc nhở con cháu: nên làm tròn bổn phận nhiệm vụ của mình, giữ kỷ cương, gia đình sẽ yên ổn, xã hội được an cư lạc nghiệp phồn vinh, phát triển. Lời dạy bảo này không chỉ được nhắc nhở hằng năm thông qua ngày hội giỗ mà còn được khắc ghi trên trống đồng Đông Sơn, biểu tượng thiêng của dân tộc, gửi gắm trong hình tượng mặt trời nằm rạng rỡ giữa trống đồng. Thông qua lễ hội đền Hùng, tổ tiên ta còn muốn nhắc nhở hậu thế những kế sách giữ nước, yên dân. Suốt mấy nghìn năm trông coi và gìn giữ, đánh giặc và dựng xây, lễ hội đền Hùng đã trở thành biểu tượng của tinh thần, là cội nguồn của sức mạnh, chói sáng của một nền văn hóa. Không chỉ người Việt chúng ta tự hào về Đền Hùng và ngày giỗ Tổ, mà nhìn vào những dòng lưu bút của các đoàn đại biểu quốc tế và bạn bè khắp năm châu bốn biển cũng đã từng đến thăm viếng Đền Hùng. Chúng ta thật sự tự hào khi được biết Đến Hùng và các di tích trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh đã làm cho cả thế giới phải cúi đầu vị nể ý thức cội nguồn dân tộc của chúng ta. Trong những dòng lưu bút thừa nhận. "Đền Hùng là nơi đặt nền móng cho lịch sử Việt Nam…". Lịch sử là một dòng chảy liên tục. Qua mấy nghìn năm, bao biến động thăng trầm, Đền Hùng và ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba âm lịch vẫn là điểm sáng của bốn phương tụ hội, nơi con cháu lưu công đức Tổ tiên, là biểu tượng của dân tộc và văn hóa Việt Nam – một dân tộc đã có truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm. |
MẪU 02 - Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 3
Giỗ tổ Hùng Vương là một trong những ngày lễ quan trọng nhất của dân tộc Việt Nam, nhằm tưởng nhớ và tri ân công lao dựng nước của các Vua Hùng. Đây không chỉ là dịp để người dân thể hiện lòng biết ơn đối với tổ tiên mà còn là cơ hội để phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, gắn kết tinh thần đoàn kết dân tộc. Theo truyền thuyết, các Vua Hùng là những người có công khai phá, dựng nước và đặt nền móng cho nền văn minh Văn Lang - nhà nước đầu tiên của người Việt. Nhờ sự lãnh đạo tài tình, các Vua Hùng đã xây dựng một quốc gia vững mạnh, phát triển nền nông nghiệp trồng lúa nước và định hình bản sắc văn hóa đặc trưng. Vì thế, từ bao đời nay, nhân dân ta luôn tôn kính và biết ơn công lao của các Ngài. Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch, với điểm trung tâm là Đền Hùng (Phú Thọ). Đây là nơi diễn ra các nghi lễ trang trọng như dâng hương, tế lễ, rước kiệu... Trong ngày này, hàng triệu người dân từ khắp mọi miền đất nước hành hương về Đền Hùng để tri ân tổ tiên, cầu mong quốc thái dân an. Ngoài ra, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao cũng được tổ chức như hát xoan, đánh trống đồng, hội thi gói bánh chưng, bánh dày... góp phần làm phong phú thêm không khí của ngày hội truyền thống. Giỗ tổ Hùng Vương không chỉ là ngày lễ trọng đại trong nước mà còn được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại. Điều này khẳng định giá trị văn hóa sâu sắc của ngày lễ này, đồng thời góp phần nâng cao niềm tự hào dân tộc. Ngày nay, dù cuộc sống hiện đại có nhiều đổi thay, nhưng truyền thống hướng về cội nguồn vẫn luôn được giữ gìn và phát huy. Giỗ tổ Hùng Vương không chỉ là một ngày hội, mà còn là dịp để mỗi người dân Việt Nam nhắc nhở nhau về trách nhiệm giữ gìn bản sắc dân tộc, tiếp nối tinh thần đoàn kết, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh. Như câu ca dao xưa từng nhắc nhở: "Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba." Giỗ tổ Hùng Vương mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là sợi dây kết nối các thế hệ con cháu, khơi dậy tinh thần yêu nước và trách nhiệm gìn giữ những giá trị quý báu của tổ tiên. |
MẪU 03 - Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 3
Mỗi năm, cứ đến ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch, hàng triệu trái tim người Việt lại cùng nhau hướng về Đền Hùng – nơi các Vua Hùng đã dựng nước, khai sinh ra nền văn hiến ngàn năm. Giỗ tổ Hùng Vương không chỉ là dịp để tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân mà còn là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy niềm tự hào và trách nhiệm đối với quê hương, đất nước. Từ bao đời nay, người Việt Nam luôn ghi nhớ câu ca dao: "Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba." Theo truyền thuyết, các Vua Hùng là những người đầu tiên khai sáng đất nước, đặt nền móng cho nhà nước Văn Lang – quốc gia đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Công lao của các Ngài không chỉ dừng lại ở việc dựng nước mà còn bao gồm việc xây dựng văn hóa, phát triển nông nghiệp, giữ gìn bờ cõi. Vì thế, từ thời xa xưa, nhân dân đã lập đền thờ và chọn ngày 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm để tổ chức lễ tưởng nhớ các bậc tiền nhân. Lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương diễn ra long trọng tại Đền Hùng (Phú Thọ) với hai phần chính: phần lễ và phần hội. Phần lễ bao gồm các nghi thức trang nghiêm như dâng hương, rước kiệu, đọc tế văn... nhằm bày tỏ lòng thành kính đối với các Vua Hùng. Phần hội lại sôi động với các hoạt động văn hóa truyền thống như hát xoan, kéo co, thi đấu vật, đánh trống đồng, làm bánh chưng – bánh dày, gợi nhớ về những giá trị văn hóa cội nguồn của dân tộc. Không chỉ tại Phú Thọ, Giỗ tổ Hùng Vương còn được tổ chức trên khắp cả nước, từ các đình, đền thờ Hùng Vương đến các cơ quan, trường học. Người Việt dù ở đâu, dù xa quê hương bao nhiêu cũng đều nhớ đến ngày lễ trọng đại này. Tại nhiều nước có cộng đồng người Việt sinh sống, ngày 10 tháng 3 Âm lịch cũng được tổ chức để con cháu có cơ hội hướng về cội nguồn. Ngày nay, Giỗ tổ Hùng Vương không chỉ là một ngày hội văn hóa mà còn là dịp để thế hệ trẻ tìm hiểu về lịch sử, truyền thống dân tộc. Thông qua các hoạt động giáo dục, truyền thông, những câu chuyện về Vua Hùng và thời đại dựng nước được phổ biến rộng rãi, giúp thế hệ sau tiếp nối tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc. Năm 2012, UNESCO cũng công nhận "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương" là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại, khẳng định tầm quan trọng của ngày lễ này không chỉ trong nước mà còn trên trường quốc tế. Giỗ tổ Hùng Vương không chỉ là ngày tưởng nhớ tổ tiên mà còn là sợi dây gắn kết dân tộc Việt Nam qua bao thế hệ. Dù thời gian có đổi thay, lòng thành kính của con cháu với tổ tiên vẫn mãi không phai nhạt. Mỗi người dân Việt Nam, dù ở trong hay ngoài nước, đều có chung một cội nguồn, một niềm tự hào dân tộc và trách nhiệm gìn giữ, phát huy những giá trị quý báu mà các Vua Hùng đã để lại. Ngày Giỗ tổ Hùng Vương vì thế sẽ mãi mãi là biểu tượng của tinh thần dân tộc, đoàn kết và trường tồn. |
MẪU 04 - Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 3
Từ xưa, dân gian ta đã có câu: Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba Câu ca dao đã nhắc nhở mỗi người chúng ta về một nét sinh hoạt văn hóa tâm linh vô cùng thiêng liêng của dân tộc hằng năm - Đó là ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Vào ngày đặc biệt này, toàn dân tộc ta, ai ai dù ở nơi đâu trên thế giới cùng đều hướng một lòng về quê cha đất tổ, vùng đất cội nguồn thuộc tỉnh Phú Thọ, Việt Nam để tưởng nhớ tới công ơn của cha ông đã gây dựng lên đất nước. Lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức thường niên nhằm tri ân công ơn to lớn của các vị vua Hùng và các bậc tiền nhân đã xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày xưa. Giỗ Tổ Hùng Vương hay còn được gọi là lễ hội đền Hùng là một trong những dịp lễ hội truyền thống quan trọng nhất trong năm của người Việt để bày tỏ sự tri ân, tưởng nhớ công lao dựng nước và bảo vệ đất nước của các vị Hùng Vương - Văn Lang ngày xưa. Lễ hội được tổ chức vào ngày mùng mười tháng ba âm lịch, với các nghi thức truyền thống được tổ chức tại đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Có lẽ trong tâm tưởng của mỗi người dân Việt, ai cũng luôn hướng về cội nguồn, hướng về những truyền thống với những phong tục tâm linh từ thời cha ông để lại. Chính vì vậy, ở bất cứ thời kì nào, chúng ta vẫn luôn giữ nguyên vẹn được phong tục Giỗ tổ của mình. Nhắc về nguồn gốc của lễ hội tưởng nhớ công ơn này thì có lẽ không ai có thể biết tới bởi nó xuất hiện và tồn tại từ lâu đời. Ngay từ thời phong kiến, các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê đã luôn dâng hương hoa và lễ vật lên ngôi đền linh thiêng này để tưởng nhớ công ơn của các đấng vua cha tiên tổ từ xa xưa. Theo Ngọc phả Hùng Vương ghi chép lại lịch sử từ thời Hồng Đức, ngôi đền thiêng liêng này đã được các vua chúa thời phong kiến thờ cúng, cho người trông nom, sửa chữa và tổ chức lễ hội vào ngày mồng mười hai tháng ba hằng năm. Các triều đại phong kiến cứ nối tiếp nhau tiếp quản nhưng không triều đại nào quên dâng hương bái tổ, dâng lễ vật và tổ chức các nghi lễ hằng năm cho ngôi đền Hùng thiêng liêng này. Vào thời phong kiến, Phú Thọ được chia ra thành bốn mươi mốt làng xã và những làng xã này có nhiệm vụ tổ chức phần lễ truyền thống khi lễ Giỗ Tổ diễn ra. Mỗi làng sẽ rước kiệu của làng mình từ đình làng tới đền Hùng với các lễ vật, đi cùng là các phường tấu nhạc, hát ca dân gian. Mỗi kiệu sẽ có lọng che, đi cùng cờ quạt và chiêng trống. Đó được coi như là những cuộc hành trình về nguồn của mỗi làng một xã vô cùng trang nghiêm và mang tính tâm linh sâu sắc. Phần nghi thức của lễ Giỗ tổ được diễn ra trang nghiêm với nhiều nghi lễ phức tạp, bao gồm lễ của triều đình và lễ của dân dâng lên. Sau phần nghi lễ trang trọng được diễn ra, nhà vua sẽ tổ chức những trò vui chơi dân gian mang tính phong tục truyền thống như hát xoan, hát ghẹo, đấu vật, đánh đu, để người dân được vui chơi sau một năm làm lụng vất vả. Nhưng đến thời nhà Nguyễn, vào năm 1917, vua Khải Định ra sắc lệnh cho tỉnh Phú Thọ phải lấy ngày mùng mười tháng ba âm lịch để cử hành quốc lễ hằng năm. Khi đó, các quan chức trong tỉnh sẽ phải mặc triều phục, đứng ra thay mặt cho các vua và các quan trong triều tế Tổ theo nghi thức truyền thống. Đến khi nền cộng hòa được thành lập vào ngày mùng hai tháng chín năm 1945, kế thừa những phong tục truyền thống của dân tộc, Chính phủ lâm thời khi đó với chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt ghi nhớ lễ hội quan trọng này. Bác vẫn luôn dặn dò mỗi người con đất Việt phải luôn "uống nước nhớ nguồn", phải biết trân trọng, gìn giữ và phát huy những truyền thống quý báu cũng như phải bảo vệ quê hương đất nước của mình. Bác cũng đã từng dặn các chiến sĩ, cán bộ khi tới thăm đền Hùng rằng: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Vâng lời dặn dò ân cần đó của Bác, năm 1946, ngay năm sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng - phó Chủ tịch nước khi đó đã thay mặt nhà nước và chính phủ lâm thời lên dâng hương hoa tại đền Hùng, Phú Thọ. Trong lần viếng thăm ấy, cụ đã mặc trang phục truyền thống khi vào làm nghi lễ dâng hương với khăn xếp, áo the và trang trọng đặt lên bàn thờ các vua Hùng bản đồ đất nước Việt Nam cùng với thanh kiếm quốc bảo. Với hành động mang đầy tính tâm linh đó, chúng ta như muốn khẳng định với các bậc tiền nhân rằng dân tộc ta sẽ giữ vững ý chí bảo vệ Tổ quốc trước sự trở lại kẻ thù xâm lược là thực dân Pháp lúc bấy giờ. Năm 1954, sau thắng lợi của chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác Hồ cùng các cán bộ và chiến sĩ của Việt Nam đã vào thăm đền Hùng để kính viếng và tỏ lòng biết ơn tới các vị vua Hùng. Ngày nay, lễ hội vẫn giữ được nguyên những nét nghi lễ truyền thống vốn có lưu lại từ bao đời trước với các phần lễ và phần hội. Giỗ Tổ ngày nay thường có sự tham gia của ba tỉnh Phú Thọ, Cà Mau, Bình Thuận tham gia góp giỗ. Cùng với đó là sự tổ chức cũng quy mô hơn, nghiêm ngặt hơn với các hoạt động văn hóa thể thao diễn ra rất sôi nổi. Tiếp nối truyền thống vốn có, phần lễ trước tiên bao gồm các nghi thức cúng Tổ, dâng hương và hoa của các đoàn đại biểu sẽ được tổ chức bên trong đền Thượng. Khác với thời xưa khi mỗi làng đều phải rước kiệu của mình để về giỗ Tổ, ngày nay, kiệu của Giỗ Tổ chỉ có một và được ban tổ chức lễ hội rước ra từ chiều ngày mùng chín đặt ở dưới chân núi. Sau đó, các đoàn đại biểu cùng vòng hoa kính viếng sẽ theo sau đội khiêng kiệu lần lượt vào đền trong tiếng nhạc bát âm. Như truyền thống vào những năm chẵn khoảng năm năm, lễ Giỗ Tổ sẽ được tổ chức theo nghi thức quốc gia, còn những năm khác đều do tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ chỉ đạo tổ chức. Khi kiệu được rước đến trước thềm của điện Kính Tiêu, một vị đại biểu lãnh đạo sẽ thay mặt cho nhân dân cả nước đọc chúc văn lễ Tổ. Những nghi lễ trang nghiêm này sẽ được ghi hình và phát trực tiếp cho đồng bào trên khắp thế giới có thể theo dõi cùng. Sau lễ đọc chúc văn và làm lễ của đoàn đại biểu, các đồng bào cũng tham gia dâng lễ tế tổ tiên, các vị vua Hùng để cầu xin về một năm mới may mắn và làm ăn phát đạt. Tiếp theo sau khi những nghi thức truyền thống đã kết thúc, ban tổ chức lễ hội cũng tổ chức thêm phần hội bao gồm các trò chơi dân gian và văn nghệ ở phía dưới chân đền. Cùng với đó là các hoạt động thể thao, văn hóa cũng diễn ra vô cùng sôi nổi và phong phú. Thêm vào đó, mỗi năm, ban tổ chức sẽ mở ra các trò chơi mới như thi gói bánh chưng, thi nấu cơm, để dâng lên vua Hùng cùng với lòng thành kính, bày tỏ sự biết ơn đối các vị vua đã tạo nên một phong tục đẹp. Bên cạnh các trò chơi dân gian là các đoàn hát nghệ thuật cũng góp vui, mang đến nhiều không khí lễ hội tưng bừng đầy phấn khởi. Ngày nay, lễ hội đền Hùng - Giỗ Tổ Hùng Vương không chỉ còn là lễ hội của riêng người dân tộc Kinh mà các dân tộc khác trong vùng như Mường, Mông, cũng tới tham gia lễ hội và góp vui cùng những tiếng cồng, tiếng chiêng đem tới một không khí thật sôi nổi, khẳng định một nét văn hóa thấm đượm tình dân tộc, tình đoàn kết anh em. Giỗ tổ Hùng Vương là một phong tục tâm linh hết sức thiêng liêng và độc đáo của dân tộc ta. Vào ngày này, con cháu chúng ta không chỉ cầu mong tổ tiên phù hộ để luôn được sự khỏe mạnh, may mắn mà còn phải luôn ghi nhớ trong lòng, biết ơn, tri ân những người tiền nhân đã gây dựng và bảo vệ đất nước để chúng ta có được ngày hôm nay. Hơn thế nữa, từ phong tục này, chúng ta nhắc nhau về một dân tộc được sinh ra cùng từ một nguồn, vậy nên phải biết yêu thương, đoàn kết, phải ý thức được lòng tự hào, tự tôn dân tộc để cùng nhau xây dựng và phát triển Tổ quốc ngày càng phồn thịnh hơn nữa. Dòng sông lịch sử vẫn luôn cuồn cuộn chảy suốt bốn ngàn năm qua cùng dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, trải qua bao thăng trầm, biến động ấy, lễ hội Đền Hùng - Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn là một lễ hội tâm linh, tín ngưỡng quan trọng bậc nhất của người Việt. Từ truyền thống tốt đẹp đã được giữ gìn hàng trăm năm ấy, chúng ta những con người của thế hệ sau phải biết cố gắng kế thừa và phát huy hơn những truyền thống tốt đẹp như thế này của dân tộc. Con cháu dân tộc ta, dù có ở bất cứ đâu, cứ tới ngày mùng mười tháng ba âm lịch sẽ nhắc cho nhau về ngày giỗ Tổ của một dân tộc ngàn năm văn hiến với truyền thống dựng nước và giữ nước vững bền. |
MẪU 05 - Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 3
Truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của con người Việt Nam có từ nghìn xưa trở thành đạo lý và lẽ sống của các dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc nhưng ở đời nào, triều đại nào nhân dân ta đều không hề quên tổ chức lễ hội Đền Hùng. Đây là một lễ hội lớn mang tính quốc gia để tưởng nhớ các vua Hùng đã có công dựng nước. Như vậy phong tục Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành truyền thống văn hóa lâu đời ở nước ta. Đó là ngày hội toàn quốc, toàn dân và trong tâm thức dân gian Việt Nam nó mang tính thiêng liêng cao cả nhất. Vì thế mà lễ hội được tổ chức long trọng hàng năm với nghi thức đại lễ quốc gia, với sự hành hương "trở về cội nguồn dân tộc" của hàng chục vạn người từ khắp các nơi trong nước và kiều bào sống ở nước ngoài. Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc đẹp trên núi Nghĩa Lĩnh, tức núi Hùng, thuộc xã Huy Cương, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Khởi thủy các ngôi đền này đều được làm bằng đá để thờ các vị thần núi và các vị vua Hùng. Và từ đó đến nay, trải qua mấy nghìn năm lịch sử, qua các triều đại, các ngôi đền đều được nhân dân địa phương trông coi, sửa chữa, tôn tạo hoặc xây dựng để chống lại sự phong hóa của thời gian và do các cuộc chiến tranh tàn phá. Để có được những ngôi đền với diện mạo bề thế khang trang như ngày nay là kỳ tích và công sức của bao thế hệ con cháu duy tu bảo dưỡng. Các di tích này từ lâu đã trở thành một di sản văn hóa quý giá và là bảo tàng lịch sử của dân tộc ta. Mỗi công trình kiến trúc của di tích đền Hùng đều hàm chứa nội dung huyền thoại hòa lẫn hiện thực, theo dòng lịch sử chảy trôi, làm cho người đi hội hôm nay như thấy quá khứ và hiện tại quyện vào nhau. Khí thiêng sông núi như tôn thêm cho ngày hội non sông thêm rạng rỡ. Từ cổng tiền lớn (Đai môn) dưới chân núi, bức đại tự phía trên mang dòng chữ "Cao sơn cảnh hàng" (Núi cao đường lớn) vui vẻ chào đón mọi người. Vượt 225 bậc xi măng, khách tới đền Hạ, nơi bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở thành trăm con trai. Có lẽ đây là sự tích về nguồn gốc của người Việt Nam được cùng sinh ra một bọc. Vì vậy mà trong ngôn ngữ của ta, dân gian vẫn dùng hai tiếng "đồng bào" (cùng một bọc) cho đến tận ngày nay. Khi u Cơ sinh bọc trăm trứng thì Lạc Long Quân dẫn 50 người về xuôi còn u Cơ dẫn 49 con lên ngược, để lại người con trưởng làm vua, xưng là Hùng Vương, định đô ở Phong Châu. Vượt 168 bậc nữa là tới đền Trung. Tương truyền nơi đền Trung là chỗ xưa kia các vua Hùng thường họp bàn việc nước với các quan đại thần trong triều. Đây cũng là nơi nghỉ ngơi thoải mái của các vua Hùng cùng các tướng lĩnh sau những cuộc viễn du săn bắn dài ngày. Nơi đền Trung còn liên quan đến sự tích "bánh chưng, bánh dày" và cuộc thi cổ do vua Hùng Vương thứ 6 tổ chức nhằm mục đích tìm người nối ngôi. Lang Liêu là con trai út vì lòng hiếu thảo đã chế ra được hai loại bánh từ gạo nếp thơm là bánh chưng và bánh dày. Lại vượt 102 bậc nữa là tới đền Thượng. Tục truyền rằng ở thời Hùng Vương, các vua Hùng thường cùng các vị tướng soái hay tổ chức tế trời trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, để cầu khấn trời phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân chúng được ấm no hạnh phúc. Cũng tại khu vực đền Thượng, vua Hùng Vương thứ 6 đã lập bàn thờ Thánh Gióng để tưởng niệm người anh hùng làng Phù Đổng. Và sự tích Thục Phán dựng hai cột đá thề, khi được vua Hùng Vương thứ 18 nhường ngôi cho và hứa tiếp tục sự nghiệp của các vua Hùng. Cạnh đền có ngôi mộ nhỏ, cổ kính được gọi là mộ Tổ. Đây chính là phần mộ của Hùng Vương thứ 6, dân gian dựa vào lời dặn của nhà vua lúc băng hà rằng: "Hãy chôn ta trên núi Cả, để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu muôn đời về sau". Từ đền Thượng, phóng tầm mắt về phía trước, khách chiêm ngưỡng 99 ngọn núi lớn nhỏ, hình bầy voi quỳ hướng về núi Mẹ - Nghĩa Lĩnh - uy nghiêm - riêng một con quay lưng lại, "ăn ở ra lòng riêng tư", đã bị mất đầu mãi mãi phải xa lìa bầy đàn, nguồn cội. Bài học bằng đá cho tới nay vẫn có giá trị nhắc nhở hậu thế về lòng hiếu nghĩa ở đời. Trở xuống đền Hạ, chếch về phía Đông Nam là đền Giếng. Tục truyền rằng ở thời Hùng Vương thứ 18, có hai nàng công chúa tên là Tiên Dung và Ngọc Hoa, theo vua cha đi kinh lý qua đây thường hay đến giếng nước trong vắt chốn này để soi gương chải tóc. Cả hai nàng công chúa đều đẹp người, đẹp nết đã có công dạy dân trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm, phát triển buôn bán trao đổi, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho muôn dân trăm họ. Nên để tưởng nhớ ơn hai vị công chúa, nhân dân đã xây dựng ngôi đền Giếng để thờ tự cúng lễ. Di tích đền Hùng gắn liền với tục thờ các vị thần linh trọng tín ngưỡng dân gian đa thần, được dân trong các làng xã địa phương quanh khu đền Hùng thờ phụng. Chính sự trông nom, thờ cúng dân tộc ta từ bao đời nay đã phần nào chứng minh cho đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của Việt Nam vốn có từ lâu đời và trở thành phong cách độc đáo của dân tộc. Lễ hội đền Hùng là dịp giỗ tổ thiêng liêng. Bởi vì trong tâm thức của mỗi người dân đất Việt đều tự hào là dòng giống Lạc Hồng, con Rồng cháu Tiên. Để rồi cứ mỗi độ xuân về người Việt lại nô nức hành hương về đất Tổ để tưởng nhớ công lao to lớn trong sự nghiệp mở nước và dựng nước, khai sáng nền văn minh Lạc Việt và lập nên nước Văn Lang cổ đại. Tháng Giêng giỗ Thánh Sóc Sơn Tháng ba giỗ Tổ Hùng Vương nhớ về. Hoặc là: Dù ai đi gần về xa Nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba mùng mười Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba Hội đền Hùng kéo dài từ mùng 8 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch, mà mùng 10 là chính hội. Cũng như mọi lễ hội khác ở đồng bằng Bắc Bộ, ở lễ hội đền Hùng gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội. Phần tế lễ được cử hành rất trọng thể mang tính quốc lễ. Lễ vật dâng cúng là "lễ tam sinh" (1 lợn, 1 dê và 1 bò), bánh chưng, bánh dày và xôi nhiều màu, nhạc khí là trống đồng cổ. Sau khi một hồi trống đồng vang lên, các vị chức sắc vào tế lễ dưới sự điều khiển của chủ lễ. Tiếp theo đến các cụ bô lão của làng xã sở tại quanh đền Hùng vào tế lễ. Sau cùng là nhân dân và du khách hành hương vào tế lễ trong các đền thờ, tưởng niệm các vua Hùng. Sau phần lễ là đến phần hội. Ở lễ hội đền Hùng năm nào cũng tổ chức cuộc thi kiệu của các làng xung quanh. Với sự xuất hiện của các đám rước linh đình mà không khí lễ hội trở nên tưng bừng náo nhiệt hơn. Các cỗ kiệu của các làng phải tập trung trước vài ngày thì mới kịp cuộc thi. Nếu như cỗ kiệu nào đoạt giải nhất của kỳ thi năm nay, thì đến kỳ hội sang năm được thay mặt các cỗ kiệu còn lại, rước lên đền Thượng để triều đình cử hành quốc lễ. Vì vậy, cỗ kiệu nào đoạt giải nhất thì đó là niềm tự hào và vinh dự lớn lao của dân làng ấy. Bởi họ cho rằng, đã được các vua Hùng cùng các vị thần linh phù hộ cho nhiều may mắn, nhân khang, vật thịnh... Tuy nhiên, để có được đám rước các cỗ kiệu đẹp lộng lẫy phải chuẩn bị rất công phu và chu đáo từ trước. Những khó khăn vất vả của dân làng đã thôi thúc họ vượt qua được để đến với cái linh thiêng cao thượng và hướng về Tổ tiên giống nòi. Đó là đời sống tâm linh của dân chúng, được biểu hiện rõ nét qua một hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian cổ truyền mang tính cộng cảm với cộng mệnh sâu sắc. Sinh hoạt văn hóa dân gian này đã thành nhu cầu không thể thiếu được đối với các cộng đồng làng xã cư trú quanh đền Hùng. Mỗi một đám rước kiệu có 3 cỗ kiệu đi liền nhau. Chúng đều được sơn son thiếp vàng, chạm trổ rất tinh xảo. Sự bày biện trang trí trên cỗ kiệu cũng rất khéo léo và đẹp mắt. Cỗ kiệu đi đầu bày hương hoa, đèn nhang, trầu cau, chén nước và bầu rượu. Cỗ kiệu thứ 2 có đặt hương án, bài vị của Thánh, có lọng và quạt với nhiều sắc màu trang hoàng tôn nghiêm. Cỗ thứ 3 rước bánh chưng và bánh dày, 1 cái thủ lợn luộc để nguyên, đi sau 3 cỗ kiệu này là các vị quan chức và bô lão trong làng. Các vị chức sắc thì mặc áo thụng theo kiểu các bá quan triều đình, còn các cụ bô lão cũng mặc áo thụng đỏ, hoặc mặc quần trắng, áo the, đầu đội khăn xếp. Trong hội đền Hùng, nhân ngày giỗ Tổ có tiến hành nghi lễ hát thờ (tục gọi là hát Xoan). Đây là một lễ thức rất quan trọng và độc đáo. Dân gian truyền rằng hát Xoan xưa kia gọi là hát Xuân và điệu múa hát Xoan có từ thời Hùng Vương và được lưu truyền rộng rãi trong dân cư của các làng xã quanh vùng. Điệu múa hát Xoan này được nhiều người ưa thích, đặc biệt là bà Lan Xuân, vợ của vua Lý Thần Tông. Bà đã cảm nhận được âm hưởng dân ca đặc biệt và độc đáo của nó, nên bà đã cho sưu tầm và cải biên thành điệu hát thờ tại một số đền, đình làng thờ các vua Hùng. Mở đầu, ông trùm phường Xoan Kim Đức - phường nổi tiếng - cùng chủ tế đứng trước hương án hát chúc bằng bài khấn nguyện. Sau đó là một kép trẻ đeo trống nhỏ trước ngực ra làm trò giáo trống, giáo pháo. Tiếp theo, bốn cô đào ra hát thơ nhang và dâng hương bằng giọng hát lề lối. Rồi đến những bài ca ngợi thánh thần kết thúc phần nghi lễ của Xoan. Ở đền Hạ có hát ca trù (gọi là hát nhà tơ, hát ả đào). Đây cũng là loại hát thờ trước cửa đình trong dịp hội làng, do phường hát Do Nghĩa trình diễn. Ngoài sân đền Hạ, ở nơi thoáng đãng có đu tiên. Mỗi bàn đều có hai cô tiên (cô gái Mường trẻ mặc đẹp) ngồi. Đu quay được là do các cô luân phiên lấy chân đạp đất. Đu tiên là trò chơi đẹp mắt, nhịp nhàng của phụ nữ. Xung quanh khu vực dưới chân núi Hùng là các trò diễn và trò chơi dân gian cổ truyền, diễn ra rất sôi động, được nhiều người tham dự như trò chơi ném côn, chơi đu, đấu vật, chọi gà,.. Những trò đánh cờ người và tổ tôm điếm được các cụ cao niên tâm đắc. Còn các đám trai gái tụm năm, tụm ba trên các đồi đó trổ tài hát ví, hát trống quân hoặc hát đối đáp giao duyên...Tối đến có tổ chức hát chèo, hát tuồng ở các bãi rộng ngay cửa đền Hạ hoặc đền Giếng... Không khí ngày hội vừa trang nghiêm phấn khởi, với hào hứng sôi nổi đã làm rung động tâm khảm trái tim bao người đến dự hội. Lễ hội Đền Hùng là phong tục đẹp trong truyền thống của người dân đất Việt. Và từ rất lâu đời trong tâm thức dân gian, vùng đất Tổ đã trở thành "Thánh địa linh thiêng" của cả nước, nơi phát nguyên nguồn gốc dân tộc. Trải qua bao thời đại lịch sử tuy có lúc thịnh, lúc suy nhưng lễ hội đền Hùng vẫn được tổ chức. Điều này đã thể hiện rõ bản lĩnh phi thường và nền văn hiến rực rỡ, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Người dân hành hương về đất Tổ không hề có sự phân biệt tôn giáo, chỉ cần là người Việt Nam thì trong tâm khảm họ đều có quyền tự hào là con cháu muôn đời của vua Hùng. Bởi vậy, hễ ai là người Việt Nam nếu có sẵn tâm thành và lòng ham muốn hành hương về đất Tổ thì tự mình có thể thực hiện ước nguyện chính đáng đó một cách dễ dàng và thuận tiện. Hội đền Hùng hay Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của nòi giống, là biểu tượng của tinh thần cộng đồng. Người đến hội mang theo lòng ngưỡng mộ sâu đậm về quê cha đất tổ, một tín ngưỡng đã ăn sâu vào tâm thức người Việt Nam cho dù họ sống ở bất cứ phương trời nào. |
*Trên đây là thông tin tham khảo bài văn Giỗ tổ Hùng Vương, bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 3, mẫu bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 hay nhất!
Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương? Bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 3? Mẫu bài văn Giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 hay nhất? (Hình ảnh Internet)
Nhiệm vụ của học sinh trung học là gì?
Căn cứ tại Điều 34 Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT có quy định về nhiệm vụ của học sinh trung học như sau:
- Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường.
- Kính trọng cha mẹ, cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường và những người lớn tuổi; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện; thực hiện điều lệ, nội quy nhà trường; chấp hành pháp luật của Nhà nước.
- Rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh cá nhân.
- Tham gia các hoạt động tập thể của trường, của lớp học, của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; giúp đỡ gia đình, tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường, thực hiện trật tự an toàn giao thông.
- Giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trường, nơi công cộng; góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường.
Đặc điểm môn Ngữ Văn trong chương trình giáo dục phổ thông thế nào?
Căn cứ theo Mục I Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT về Chương trình môn Ngữ Văn có nêu rõ đặc điểm môn Ngữ Văn trong chương trình giáo dục phổ thông như sau:
Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực Giáo dục ngôn ngữ và văn học, được học từ lớp 1 đến lớp 12. Ở cấp tiểu học, môn học này có tên là Tiếng Việt; ở cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông có tên là Ngữ văn.
Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp học sinh có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; đồng thời cũng là công cụ quan trọng để giáo dục học sinh những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ở học sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái, vị tha,...
Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong các tác phẩm văn học, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời.
Nội dung môn Ngữ văn mang tính tổng hợp, bao gồm cả tri thức văn hoá, đạo đức, triết học,... liên quan tới nhiều môn học và hoạt động giáo dục khác như Lịch sử, Địa lí, Nghệ thuật, Giáo dục công dân, Ngoại ngữ, Tự nhiên và Xã hội, Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp,… Môn Ngữ văn cũng liên quan mật thiết với cuộc sống; giúp học sinh biết quan tâm, gắn bó hơn với đời sống thường nhật, biết liên hệ và có kĩ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn.
Nội dung cốt lõi của môn học bao gồm các mạch kiến thức và kĩ năng cơ bản, thiết yếu về tiếng Việt và văn học, đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh ở từng cấp học; được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.
Giai đoạn giáo dục cơ bản: Chương trình được thiết kế theo các mạch chính tương ứng với các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Kiến thức tiếng Việt và văn học được tích hợp trong quá trình dạy học đọc, viết, nói và nghe. Các ngữ liệu được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh ở mỗi cấp học.
Mục tiêu của giai đoạn này là giúp học sinh sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống và học tập tốt các môn học, hoạt động giáo dục khác; hình thành và phát triển năng lực văn học, một biểu hiện của năng lực thẩm mĩ; đồng thời bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm để học sinh phát triển về tâm hồn, nhân cách.
Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Chương trình củng cố và phát triển các kết quả của giai đoạn giáo dục cơ bản, giúp học sinh nâng cao năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học, nhất là tiếp nhận văn bản văn học; tăng cường kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận, văn bản thông tin có độ phức tạp hơn về nội dung và kĩ thuật viết; trang bị một số kiến thức lịch sử văn học, lí luận văn học có tác dụng thiết thực đối với việc đọc và viết về văn học; tiếp tục bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, tâm hồn, nhân cách để học sinh trở thành người công dân có trách nhiệm.
Ngoài ra, trong mỗi năm, những học sinh có định hướng khoa học xã hội và nhân văn được chọn học một số chuyên đề học tập. Các chuyên đề này nhằm tăng cường kiến thức về văn học và ngôn ngữ, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đáp ứng sở thích, nhu cầu và định hướng nghề nghiệp của học sinh.










Quý khách cần hỏi thêm thông tin về có thể đặt câu hỏi tại đây.
- Chủ đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp có phải công khai diện tích đất chưa cho thuê không?
- An toàn lao động là gì? Người lao động có những quyền lợi gì trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động?
- Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ BHXH có bị trích 10% thuế TNCN khi làm hợp đồng thuê khoán không?
- Thuyết minh về ngôi trường em đang học ngắn gọn? Dàn ý thuyết minh về ngôi trường em đang học chi tiết?
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ được xác định trên cơ sở nguyên tắc phân định thẩm quyền như thế nào?